Saturday, July 5, 2008

Thực sự hôm nay


Truyện có nghĩa là gì?
P.C.T.

1

Thực sự hôm nay tôi không còn muốn sống nữa. Tôi cũng không còn muốn tự tử. Tôi cũng không sợ chết. Đôi lúc cũng sợ chết, đôi lúc thôi. Cái chết đối với tôi như một chiếc xích lô máy. Nhiều lúc ngồi xích lô máy, tôi tự hỏi: tại sao nó không lủi vào xe nhà binh cho rồi; nhưng lại có nhiều lúc khác, ngồi thúc chân trong chiếc xích lô máy, nhìn lên một chút trời nắng, tôi thấy rằng sống lờ phờ cũng vui và dễ, như đèn đỏ tắt thì đèn xanh cháy lên. Đỏ và xanh, sống và chết, vui và buồn, yêu và ghét, tôi bỗng thấy ghét mấy chữ “và” này. Và thế rồi một buổi chiều, tôi thấy yêu chữ “và” này. “Và thế rồi”, ba chữ này, ba tiếng này, tôi nghĩ rằng không thể tìm được một loạt chữ nào ở thế giới khả dĩ gọi lại tất cả lù mù hiện lên trong đó. Và thế rồi, không có quyển sách nào ở thế giới mà không lệ thuộc vào điệu cải lương: “và thế rồi...”, thế mà không ngôn ngữ nào ở thế giới có được âm thanh leo xuống và kéo dài ra như một con sông chảy ngược. Âm thanh bắc thang, tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn như thành phố Đà Lạt, mang nhan đề là “âm thanh bắc thang”. Ngày nhỏ, mỗi lúc em tôi làm lỗi, tôi bênh vực nó và mẹ tôi hay nói: “Mầy đừng bắc thang cho nó leo”. Thuở đó, tôi hay giựt mình và lấy làm lạ: “Tại sao không có thi sĩ nào dùng kiểu nói bắc thang để bênh vực cho mùa hạ?”. Tôi ghét mùa hạ và thích viết một quyển tiểu thuyết thực lạnh, không phải lạnh hiểu theo nghĩa bóng mà lại là thứ lạnh thực đen, lạnh vô cùng lạnh. Tôi lại thích viết một quyển tiểu thuyết mà nhân vật chính trong đó hay thích dùng mấy chữ “vô cùng”. Thí dụ bây giờ trưa và trời lại tối vì sắp mưa, nhân vật chính ấy đi vô đi ra trong nhà và nói lí nhí trong đầu: “Đời sống sao khó hiểu vô cùng, nhưng mình phải chịu đựng, dù sự chịu đựng ấy quả là vô cùng. Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu lại, yêu mọi sự, ông sẽ chết, tôi và ông sẽ chết, tôi buồn vô cùng”.
— Tại sao hồi nhỏ ông hay giựt mình?
— Khoan khoan đã, ông hãy để nó giựt mình, để tôi kể tiếp...
— Hãy kể tiếp, chậm rãi, hãy kể một cách bình thản.
— Tôi nói đến đâu rồi?
— Vô cùng...
— À, mà ông biết xích lô máy là cái gì không?
— Ở Nữu Ước không có loại xe này, nhưng ông hãy kể tiếp về nhân vật yêu thích dùng mấy chữ “vô cùng”...
— Ở xứ tôi có xích lô đạp, rồi đến xích lô máy...
— Thôi, đúng giờ rồi, ngày mai, ông trở lại đây như thường lệ.
Tôi xô cửa, cửa nặng quá xô muốn té nhào. Chuyến xe lửa chiều nay chạy băng qua trên đầu tôi, tôi bước xuống hầm xe lửa, mua một đồng xu nhỏ bỏ vào máy, đi vào hầm đợi, đi trờ tới chỗ bán báo của ông Mỹ bụng phệ, mặc áo ca rô xanh đỏ, đeo kính trắng. Tôi dở tờPlayboy ra đọc mục lục, thấy bài phỏng vấn mục sư Martin Luther King và ngó sơ qua những hình đầm mộng mị. Đại khái cũng thế thôi, mỗi khi tôi tự bắt chợt mình đang làm chuyện cấm thì tôi liền độc thoại nội tâm: “Đại khái thì cũng thế thôi.” Thực ra, Playboy cũng chẳng có gì đáng gọi là chuyện cấm, nhưng đứng chờ xe lửa, bên cạnh ông Mỹ bụng phệ hút xì gà và chờ tôi trả tiền (vừa hút xì gà vừa chờ lấy tiền báo) thì tôi lại đồng hoá sự chờ lấy tiền của ông ta với chuyện chờ xe lửa của tôi; đứng lờ rờ ngó hình màu và bắt buộc người ta phải chờ mình như chờ xe lửa thì đó cũng là một thứ chuyện cấm đối với ý thức gương mẫu của một người “tự trọng”. Xe lửa rồ tới, tôi nhảy ngay vào cửa hé, ngồi ngay hướng thuận đi tới (ngồi nghịch hướng, chóng mặt chút ít). Hai người da đen đang đùa giỡn với nhau, anh lùn nhón người lên thọc thọc vào nách anh cao và nói một tràng bi bô, rồi cả hai cười ầm lên như khỉ (khỉ có cười không? Khỉ thường nhe răng. Hồi nhỏ đi sở thú, tôi hay lấy đá vụn liệng vào hạ bộ của mấy con khỉ và chúng nhe răng khè khè như ông kẹ. Từ đó, tôi bỗng thấy răng tất cả thi sĩ đều giống khỉ. Nguyễn Du là một con khỉ, một loại khỉ trắng, ngồi buồn trước thu phong). Tôi ngó chung quanh tôi, những người ngồi trong xe lửa đều giống khỉ hết, nhưng một loài khỉ không có đuôi và làm bằng sáp cứng. Khỉ bằng sáp mà cũng biết đi, biết đứng, biết nói và biết cười. Tôi cũng là một con khỉ, tệ hơn là khỉ nữa, vì tôi không biết cười, không biết nhe răng; ngồi trong chiếc xe lửa chạy giữa thành phố Nữu Ước mà tôi nhảy liệng từ nước này qua nước khác, từ Sài Gòn qua Hồng Kông, từ Bangkok qua Calcutta, từ Lhasa qua Téhéran, từ Cà Mau qua Mexico, từ lúc ba tuổi cho đến lúc hai mươi tuổi, từ mười sáu tuổi cho đến lúc tám mươi tuổi: tôi tưởng tượng mình là con voi già chống gậy đi lụm khụm trên những chiếc lá vàng, trông thơ mộng và mất dạy như chuyện cổ tích trẻ con. Tôi bước xuống xe lửa và leo lên bậc thang đá dẫn ra đường thứ mười bốn, tôi thả bộ đi xuống Greenwich Village. Vừa bước đi vừa tìm một hiệu sách chịu mua sách cũ, trong tay tôi có cả một túi ny lông, đựng năm quyển sách đóng bìa dầy, bìa cứng thực mới. Một cuốn nói về sự thông minh của loài khỉ đột, một cuốn Kinh Dịch được dịch ra chữ Anh, hai cuốn của Sayoran và một cuốn về thần học của Thomas D’ Aquin (lúc ấy tôi có ghi học mấy giờ về thần học thời Trung cổ ở trường đại học Columbia, một trường đại học mà tôi ghét đến độ muốn ăn trường trai luôn), tôi mới vừa mua năm cuốn ấy vào tối đêm qua, tiêu hết năm mươi dollars cuối cùng, sáng nay lại thèm uống cà phê, lại đói vào lúc trưa và lại không muốn chìa tay mượn tiền bạn bè nữa, tôi liền nghĩ ngay việc thủ tiêu năm quyển sách này với giá thật rẻ. Hiệu sách chịu mua sách cũ, trả tôi mười dollars để đổi lấy năm quyển sác tôi chỉ dở đọc sơ một quyển của Thomas d’ Aquin và phải nằm ngáp năm lần rồi ngủ quách với bầy chữ La Tinh vo ve trong tiềm thức). Văn minh ngàn năm của nhân loại bây giờ thực rẻ: chỉ việc vứt nó đi thì được mười mỹ kim. Với mười mỹ kim này, tôi được hai bao thuốc Pall Mall đỏ, hai buổi cơm sinh viên nghèo, ba bốn tách cà phê suốt đêm ở quán Feenjon (hay Feenjohn, tôi không rõ tên, có những tên đáng nhớ hơn như: Brooklyn, Jamaica, Untergang nhưng ngược lại khó nhớ rõ: I ging hay I king hay I jing hay là Y ching?)
Khi tôi bước vào quán cà phê Feenjon thì trời đổ mưa, đường bên ngoài ướt hết. Người đàn ông và người đàn bà ôm nhau hôn ngay lối đi còn sót lại trong quán cà phê. Tất cả bàn đều ứ người. Mùi thuốc lá ngầy ngầy bay sà vào mũi, có khác gì mùi giấy cũ pha một chút nước mưa trộn lẫn với mùa nóng có người phát thư ban đêm đi qua nhà với tay cầm đuốc đang khi người ta đốt vải rách liệng ra ngoài sân để đuổi tiếng ó ma lai kêu vọng lại từ bên kia rừng cây, bên kia đồi đá? Đà Lạt hiện ra giữa quán cà phê đông người vào một buổi chiều mưa Nữu Ước. Tôi đã làm gì cho tôi? Một chút nước mưa, một chút nước biển, một chút đá, một chút ham muốn, một chút đói bụng, đói, đói, đói, đói đủ thứ. Đói cả sự chết, đói cả sự đói, đói óc, đói tim, đói hai ngón tay cái, đói mười ngón tay (quên cắt móng, dính đất đen thui, dơ một cách dễ chịu đựng vô cùng).
— Tại sao không dọn cơm ăn đi, đói quá rồi.
— Chờ một chút xíu thôi.
— Chiều nay ăn cơm với su luộc?
— Có đậu nữa, giàn đậu chim bay về phá quá.
— Tối chạng vạng heo rừng đã về phá rau cải lung tung.
— Mầy sợ ma không?
— Ma lai hả?
— Ma, ma rừng, ma núi, ma truông, ma bờ, ma bụi.
— Đèn cầy còn hết, nhớ nhắc mai ra chợ mua thêm một hộp đèn cầy nữa, mua thứ đèn cầy lớn đó.
— Ừ mầy nhớ nhắc má mua đèn dầu lửa cho tao, tao cần thức đêm để viết bài đăng bào kiếm tiền tháng tới.
— Má có mua rồi, để ở đầu tủ sau giường anh đó.
— Hôm qua tao thấy ma hiện về, nó ngồi ngay cửa lớn, ca hát giọng gì lè nhè như con gà bị bóp cổ. Con ma nó nói nó đói quá, nó đòi ăn đèn cầy trắng...
Tôi chỉ là một con ma đói ở giữa thành phố lớn nhất thế giới. Quán cà phê này là nơi tôi lai vãng để tìm lại một chút khí dương giữa cõi chết. Đà Lạt và Nữu Ước. Đà Lạt gần gũi tôi hơn đang lúc bước vào quán cà phê ở Nữu Ước này. Tôi cần một chút Đà Lạt để sống, xin cho tôi một chút Đà Lạt, chỉ một chút, một chút thôi. Trời Nữu Ước trở lạnh, tôi cuộn khăn nỉ quanh cổ, đốt một điếu thuốc, ngồi giữa sự bình an của một mớ hình ảnh trong đầu. Một ngôi nhà to lớn, cũ, đầy rêu, nhện, chim và bồ câu, trước nhà có một hàng cây xưa cao vút và già như mấy cái cây thông rừng, ngôi nhà nằm trên một ngọn đồi ở ngoại ô Đà Lạt, trên đường đi về Dran. Một con bò nhai cỏ trườc nhà, trên cao là một đám mây. Tôi không còn nhớ mây màu gì? Mây ở Đà Lạt có màu khác hẳn tất cả màu mây ở nơi khác. Màu trắng? Không, một màu nào đó không có trong đôi mắt của người tình. Có lẽ là một màu nào đó trong mắt của người nhìn nước chảy, nước chảy trên cổ trắng thon thon của một người đàn bà vừa cắt tóc thật ngắn để trá hình trong một sự đổi thay của Định mệnh.

2

Tôi làm gì để sống bây giờ? Tôi không đòi hỏi gì hết. Tôi chỉ cần ăn hai bữa hay một bữa trưa cũng được, tôi cần một gian phòng nhỏ, một cái bàn viết, một cây viết và một xấp giấy trắng. Thỉnh thoảng cũng cần một chút trời mưa, mưa dai và dài cả đêm cả ngày, rồi lại nhiều ngày cũng cần có một vài chiếc lá xanh trong ly nước để trước mặt, không có lá xanh thì có cỏ xanh dài cũng được. Chỉ cần một chùm cỏ xanh để trong ly nước dựng nơi bàn viết là tôi đủ sinh tố để sống một trăm ngày trọn vẹn. Còn hoa? Tôi không dám đòi hỏi nhiều. Có hoa trong ly nước thì cũng đẹp, nhưng đẹp hơn vẫn là cỏ, cỏ héo cũng được vì cỏ héo thì cũng là cỏ, một thứ cỏ mặn mà như đất già. Hoa héo không còn là hoa nữa, giống như là đàn bà viết văn thì không còn là con gà ở rừng lúa nữa mà lại trở thành gà được nuôi bằng những thực phẩm hoá học nhập cảng từ Hiệp Chủng Quốc. Hoa héo là hoa héo, chấm một chấm xuống hàng.
Tôi đã hút đến điếu thuốc thứ mấy rồi? Năm nay là năm gì, năm của Thiên Đàng hay năm của Hoả Ngục? Không bao giờ tôi sống bình thường được, có nhiều lúc sao thấy thì giờ kéo dài ra như một người đàn ông cao gần hai thước và nằm dài trên cái giường một thước rưỡi — để hai chân lông lá thò thò dư dư ra. Có đôi lúc thì giờ giống như cây bút chì, chuốc hoài mà vẫn mòn đi, vì thân mềm như bún, bết trên giấy trơn tru như xe lửa chạy trên đồng bằng. Tôi cứ tự dạy: hãy bò thực chậm như đứa con nít bò trên sàn nhà, bò bằng hai tay và hai chân. Nhưng rồi bài học cũng khó thuộc: thường khi tôi muốn phóng nhanh hơn cả nai rừng. Tôi không chịu đi hai chân, không chịu chạy và cũng không chịu bay. Tôi muốn xẹt xẹt như làn chớp lúc trời bão. Xẹt trên trời một cái, xẹt dưới đất một cái, xẹt xuống con đường, cánh đồng, ngã tư, ngã ba. Rớt xuống một vệt sáng ở đây, ở đó, rồi tắt ngúm như lửa rạ. Viết văn không khác gì sống mỗi ngày, mỗi trang giấy trắng là mỗi ngày, muốn làm gì làm thì cũng bị nhốt vào trang giấy trắng, mỗi lần ngồi trước trang giấy trắng thì tôi chỉ lặp lại cái việc thức dậy mỗi buổi sáng, tôi ngồi thừ ra, lừ đừ như con vịt đực; viết một chữ trên trang giấy là bị lôi vào những gì không thể tránh được đi theo sau chữ ấy, đi theo một cách tế nhị khó ngờ được; chẳng hạn như khi tôi viết “gió” thì những gì không thể tránh được là “gió thổi trên thung lũng, gió về với mùa thu, tóc bạc trắng, vân vân”, hay dù tôi có nói ngược lại đi nữa thì cũng là ngược theo chiều gió, tức là một cách cuốn theo chiều gió, một cách lộn lại như hột vịt lộn. Điều đau đớn là không thể chạy trốn ở đâu mà thoát hoạ được, tờ giấy trắng nằm chình ình ra đấy, nếu tôi trốn viết, bỏ viết văn đi nữa thì cái đầu tôi vẫn nằm chình ình ra đấy; cái đầu của tôi, cái óc của tôi mới là giấy trắng, thực thụ, trắng hơn cả tờ giấy trắng, cái óc của tôi, nó làm tờ giấy trắng cho tư tưởng của con tim, rồi con tim của tôi nó lại làm tờ giấy trắng cho dòng máu của tôi; máu chảy trong thân thể tôi lại muốn viết văn trên tờ giấy trắng của con tim; rồi lại đến lượt máu của tôi lại làm tờ giấy trắng cho sự chết: sự chết viết văn trên tờ giấy trắng của máu, và sau cùng sự chết cũng lại phải làm tờ giấy trắng cho cái gì đó không có tên gọi; cái gì đó vô danh, vô tướng lại viết văn trên tờ giấy trắng của sự chết. Nếu tôi không phải là con vịt đực thì tôi phải lý luận rằng mỗi khi ngồi viết văn trước một trang giấy trắng trên bàn thì tôi chỉ lặp lại cái việc của người thức canh xác chết, ngồi trước cái khăn lịm trắng toát, nhưng có một điều khó hiểu nhất: người ngồi canh xác chết lại chính là người đang nằm chết dưới cái khăn lịm trắng kia; lắm lúc bất thần có con mèo đen nhảy phóng qua xác chết thì cái xác kia ngồi dậy bước đi lảo đảo như người say rượu. Tôi gọi con mèo đen ấy là chữ viết.
Đà Lạt mùa này đầy hoa quì rừng, vàng bên kia đồi, vàng bên này đồi, vàng dưới kia đồi, vàng trên kia, trên cao kia, cao và gần trong tầm với của mắt. Tôi bước đi không vững, vì uống cả bình cà phê to, hai bình cà phê to như hai cái lu nước. Tôi thấy chữ A ra chữ B, chữ C ra chữ D, tôi thấy tôi chảy trong cống nước, tôi bay theo khói thuốc.

------------------------------------------------------------------------------
Trong cuốn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện
(Sài Gòn: nxb Phạm Hoàng, 1970)
Phạm Công Thiện 

Friday, July 4, 2008

Dù đến đâu thì cứ đến


“Merdisme, Anti-Merdisme...”

Cái khó khăn của việc bắt đầu, càng lúc càng thấy thấm thía. Sáng nay, tôi thức dậy. Trông rất giản dị, chỉ thức dậy, đứng lên, đi và nói. Có cái gì chưa chịu chạy, có một cái gì chưa muốn chạy, đó là cái gì? Có lẽ tiếng nói đầu tiên trong ngày? Hồi khuya, đang ngủ ngon, tôi bỗng giựt mình ngồi dậy, ừ, bên ngoài có tiếng động cạy cửa. À, té ra ăn trộm. Đèn cầy ở đâu? Tôi cố khua động cái bàn để tìm bao diêm, tôi muốn làm ồn để cho ăn trộm chạy trốn: tôi muốn bắt ăn trộm mà vẫn tỏ ra rằng mình muốn cho ăn trộm chạy trốn. Nghĩa là muốn bắt và không muốn bắt. Tông cửa sau ra, tôi đưa đèn lên cao và thấy con mèo trắng ló đầu trên mái nhà tắm. Tại sao con mèo trắng mà không là con mèo đen? Tôi đứng đái trong nhà cầu và suy tư dữ dội theo dòng máu đang chuyển vận mạnh trong thân thể: có lẽ con mèo trắng là con ma? Càng già lên thì tôi càng thích nghe chuyện ma, mặc dù tôi chưa gặp ma lần nào cả. Thường khi gặp ai, dù lạ hay quen, tôi cũng đều hỏi: có thấy ma chưa? Tôi thất vọng: không ai nói là có thấy ma: họ chỉ “nghe kể lại”. Hồi tôi còn nhỏ, ông ngoại tôi hay kể lại rằng chính ông đã đánh lộn với ma, tôi vốn đa nghi và nhiều lần hỏi lại mẹ tôi thì bà cũng xác nhận rằng ông ngoại tôi thường đánh lộn với ma. Tôi là kẻ vốn mang nặng “tinh thần khoa học” dù “tinh thần khoa học” ấy chẳng qua là thứ “khoa học” mà mấy ông thầy bói gọi trại là “khoa học huyền bí”. Vì nặng “tinh thần khoa học” cho nên tôi cần nhiều sự chứng minh: tôi hỏi lại tất cả mấy bà dì tôi về chuyện đánh lộn với ma của ông ngoại tôi. Tất cả đều đồng thanh: “Chẳng những ông ngoại đánh lộn với ma mà ngoại còn rủ ma đi chơi nữa”. Bây giờ, ông ngoại tôi đã chết, một buổi trưa nóng ở Sàigòn, lúc tôi đang còn ngủ trưa trên một cái gác trọ ở đường Võ Tánh, đối mặt với con đường xe lửa: mẹ tôi leo lên lầu và đánh thức tôi dậy: “Ông ngoại con đã chết đêm qua”. Tôi theo mẹ đến nhà bà dì ở Thủ Đức; ông ngoại tôi nằm nhắm mắt và miệng há ra, cứng đơ và mềm mềm, tôi khoanh tay đứng ngó, không buồn không vui, có lẽ tần ngần thì đúng hơn, vì đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy người thân chết; hồi tôi còn nhỏ, hai đứa em trai kế tôi cũng chết, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ quá và cũng chẳng nhớ gì rõ ràng lắm, có lẽ tôi chỉ nhớ rằng người nhà đậy khăn trắng trên mặt chúng, từ ngày chúng chết đi cho đến nay đã được trên hai chục năm rồi mà tôi không bao giờ thấy chúng về dù là hiện về trong mộng. Có những cái chết là chết hẳn. Nhưng đối với ông ngoại tôi thì khác, tôi không tin rằng ông chết, dù tôi thấy ông nằm chết trước mắt tôi. Thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tôi vẫn thấy ông sống. Có một lần ở Paris, tôi bị ông anh ruột đuổi đi một cách khéo léo, rồi sau đó vì chịu đói không nổi, tôi liền chạy lại ông cậu ruột của tôi, em út của mẹ tôi; tôi được ông nuôi vài ngày, rồi lại bị đuổi đi nữa và đành phải ngủ ngoài vỉa hè, nơi nào gần lỗ cống thì mới ấm: cống xông hơi lên, đầy khói. Sau một thời gian sống với những tên ăn mày ở Paris, bọn “clochards”, thì tôi lại xáp vào nhập bọn với đám beatniks (lúc ấy chỉ có beatniks, chứ chưa có hippies), tôi được chúng chia bánh mì, cà phê và thuốc lá, và quan trọng nhất là được một tên chỉ cho chỗ xin súp bình dân mỗi chiều vào lúc 7 giờ tối, ở đằng sau nhà thờ Saint Séverin. Sau một thời gian long đong đói lạnh thì tôi được một hoạ sĩ Việt Nam đem về nuôi trong phòng vẽ của hắn (cách đây một tháng tôi có trở lại Paris và nghe tin rằng bây giờ hắn vất vả lắm — hãy để cho tôi chúc hắn được “tai qua nạn khỏi”), hắn nuôi tôi được một lúc, rồi lại đuổi khéo, tôi vốn sinh ra mang “máu anh hùng” dù là “anh hùng rơm”, do đó gần lửa tàn thì vẫn dễ cháy. Tôi lại xách áo ra đi, trong túi không có một đồng quan nào cả; không nhà, không bà con nào nhờ cậy được, không bạn bè, không nghề ngỗng gì ráo. Buổi chiều hôm đó, hắn đã cho tôi uống rượu thật say, rồi sau cuộc rượu ấy là sự đuổi khéo: “Tao sắp đi Marốc, thôi mầy đi tìm chỗ khác ở, tao trả phòng lại”, tôi nói: “Cảm ơn” và xách áo đi thẳng, không muốn ngó lại (ừ, có đứng lại và đái dài hơn trong nhà cầu dưới lầu). Buổi tối đêm đó thực đúng như nhan đề quyển tiểu thuyết của Céline, đầu đêm hay cuối đêm?, tôi không biết gì hết chỉ biết bước đi loạng choạng như thằng say rượu (mà quả là say rượu thật, chứ không như) và tôi đã nhìn thấy ông ngoại tôi; tôi gọi “ông ngoại, ông ngoại!”, nhưng sau đó tôi dụi mắt và đoán ngầm rằng mình đã say, vì quá say, nên thấy loạn xạ hết cả.
Tôi nói về cái gì? Ừ, cái khó khăn của việc bắt đầu. Sáng nay, tôi thức dậy. Tôi thấy con mèo trắng, nghĩ đến ma, rồi nhớ đến ông ngoại, sau cùng lại nhớ đến thời gian long đong ở Paris. Và bây giờ, tôi có thể viết tiếp đến bao nhiêu trang giấy nữa thì cũng không hết chuyện dù câu chuyện cũng có thể chấm dứt nơi đây. Nhưng tôi chưa muốn chấm dứt nơi đây, vì chấm dứt nơi đây có điều bất lợi: tôi sẽ không nói hết điều tôi muốn nói.
Về điều bất lợi thì quả là bất lợi. Tôi vẫn luôn luôn muốn nói hết điều tôi muốn nói. Nhưng nói hết là nói hết thế nào? Chẳng hạn sáng nay, tôi thức dậy. Làm gì nói hết được những gì xảy ra trong đầu tôi khi tôi vừa mới thức dậy? Vừa muốn nói điều này thì điều khác lại chạy sờ tới, hấp dẫn hơn, đáng nói hơn điều mình muốn nói. Thế là mình lại nói đến điều hấp dẫn kia và quên đi điều muốn nói. Hồi sáng, tôi muốn nói về sự khó khăn của việc bắt đầu, mà chưa nói đến sự khó khăn ấy thì nói đến con mèo trắng rồi lại nói đến ma, đến ông ngoại và sau cùng đến điều bất lợi. Và bây giờ tôi lại muốn nói: “Phải viết văn như thế nào?” Người ta nói rằng viết văn thì phải cần có kỹ thuật và kỷ luật; viết văn thì phải có nghệ thuật; viết văn thì phải có ý tưởng, hay cao hơn, phải có tư tưởng; viết văn thì phải có “thái độ” và “lập trường”. Hồi tôi còn nhỏ, học trường thầy dòng, đến giờ viết “dissertation” thì thường nghe thầy dạy như vậy; lúc ấy, tôi đã bắt đầu đa nghi dữ dội và muốn đưa tay lên trả lời: “Viết văn là đi đái, viết tuôn trào như nước đái, nóng, sôi, reo lên xè xè như tiếng ve bãi trường”. Nhưng tôi lại không dám đưa tay, và khi dám đưa tay thì lại nói ngược lại điều mình muốn nói: “Viết văn là diễn tả những gì thành thật nhứt trong ý nghĩa của mình, bằng tất cả xúc cảm và tưởng tượng, để nói lên những gì đè nặng trong tâm tư, bằng một ngôn ngữ khúc triết mạch lạc để sống trong sự có mặt của mình và kẻ khác”. Tôi đã đưa tay lên và nói rởm như vậy, và được thưởng bằng một khuyên tròn “très bien!” Liền sau đó, nói như Freud, tôi liền phản ứng lại bằng sự trả thù của bản năng, tôi liền đứng dậy, đi thẳng lên bàn thầy và xin đi đái, (mà không thể nói là “đi đái” mà phải nói “đi việc cần”!)
Dám và không dám, bây giờ, đối với tôi, viết văn chỉ có thế. Dám viết hay không dám viết. Có cái người ta dám nói mà mình không dám viết, có cái người ta không dám nói mà mình dám viết. Nhưng dám có nghĩa gì? Người điên có dám không? Người say rượu có dám không? Tất nhiên dám chỉ có ý nghĩa với hạng người tỉnh trí, quân bình. Người ta chỉ dám khi trí óc người ta còn biết đến sự nguy hiểm. Sự nguy hiểm không có nghĩa gì hết đối với hạng người được an toàn trong cơn điên hoặc cơn say. Tất cả mọi người đều điên (một nhà phân tâm học nào đã nói thế? Norman Brown hay Wilhelm Reich?). Như thế thì không ai có thể tự nói rằng mình có thể dám hay không có thể dám. Trong một quyển sách nhan đề La fonction de l’Orgasme (tạm dịch dài ra là: tác dụng của việc sướng nhất trong sự giao cấu), Wilkelm Reich viết về Peer Gynt của Ibsen như vầy: “Người ta làm xong bổn phận và giữ kín miệng. Từ lâu rồi người ta đã thanh toán Peer Gynt trong lòng mình. Nếu không thế thì cuộc đời sẽ quá khó khăn và nguy hiểm” (trang 42). Tôi không được dịp học vở kịchPeer Gynt của Ibsen nhưng đó dường như tấn kịch về một con người không thể tìm thấy được trái tim của mình, một con người cô đơn bị một xã hội chà đạp, giẫm nát, đến nỗi sức sống càng lúc càng tàn tạ phôi pha đi và mất hẳn. Peer Gynt có dám không? Mà dám cái gì? Dám cái này thì không dám cái kia, dám tất cả thì không dám một cái gì hết. Dám hay không dám, hữu hình hay vô hình, bên trong hay bên ngoài, có hay không có, hữu thể hay hư vô, nghệ thuật hay phi nghệ thuật, thực ra tất cả những thứ lý luận “hay... hay...” này chỉ là một điếu thuốc cháy hay không cháy. Thuốc cháy thì bị cancer, thuốc không cháy thì bị buồn trống, nghĩa là còn nguy hiểm hơn cancer. Không bị cancer thì cũng bị cancer: nguy hiểm / an toàn = an toàn / nguy hiểm, sự lên xuống của an toàn và nguy hiểm giống như “tác dụng của sự sướng ngất...”: “La fonction de l’Orgasme”.
Bây giờ trời đang mưa, mặt trời đã chìm đi và chỉ còn một mớ kỷ niệm, ồ, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” Mùa hè đã qua, nhưng mặt trăng, vân vân và vân vân.
Những bức thư tình đại khái đều có giọng văn ăn tiền như trên. Thỉnh thoảng tôi cũng thường viết với giọng cà cưa như vậy (vừa hút thuốc vừa thả khói một cách rất đểu giả), nhưng lúc nào thoải mái hơn, thì tôi loi moi đi tìm cuốn tiểu thuyết Justine của Lawrence Durrell và bắt chước giọng văn rất tình và rất khan như khí hậu tình khan của thành phố Alexandrie:
“Tôi chỉ ghi lại đôi điều này để tìm lại cả một phần đời đã chìm lún trong biển. Ôi hỡi em! Melissa! Melissa!”
(... Je note simplement ces choses pour retrouver toute une partie de ma vie qui s’est engloutie dans la mer. Melissa! Melissa!...)
Tôi muốn viết một truyện ngắn và muốn bắt chước mở đầu một đoạn văn “khan khan giọng tình” như vậy. Melissa! Melissa! Nhưng điều đáng buồn là tôi chẳng có Melissa nào để gọi hay là có quá nhiều Melissa để không dám gọi, vì tôi không muốn bắt chước Lawrence Durrell để viết thêm ở đầu câu truyện: “Những nhân vật của tiểu thuyết này, cũng như nhân vật kể truyện, đều thuộc về tiểu thuyết, không có thực. Chỉ có thành phố là thực.”
Đôi lúc mất bình tĩnh hơn, tôi tự hỏi: “Tại sao không dám nói: chỉ có sự nói láo là thực?” Có một sự thực, thực hơn tất cả sự thực, đó là... là cái gì?
Tình yêu là gì? Làm sao cắt nghĩa được tình yêu? Có nghĩa gì đâu một buổi chiều... vân vân, chẳng gặp nhau mà đã biệt ly, hồn anh theo dõi..., vân vân.
Tôi không hiểu tại sao hồi nhỏ tôi thích đọc những câu thơ “đểu giả” như trên. Bây giờ tôi không dám đọc nữa. Vì sao? Tại sao ngày xưa, chỉ là ngày xưa, ôi Melissa! Melissa!
Nhưng văn chương khô hay văn chương ướt, văn chương hợp thời hay văn chương lỗi thời, văn chương xám hay văn chương hồng thì cũng lệ thuộc vào “fonction de l’orgasme”. Văn chương của “orgasme”, ừ, đúng rồi: “la littérature de l’orgasme”. Có lẽ đó là nhan đề một quyển sách khác mà Wilhelm Reich chưa kịp viết thì đã chết trong tù (trong một nhà tù Hiệp Chủng Quốc, “made in U.S.A.”).
Tôi rất đau lòng là đã viết bốn trăm trang rồi mà vẫn chưa biết rằng mình viết về cái gì. Nhưng nếu một truyện ngắn có nghệ thuật, có kỹ thuật mới mẻ, với giọng văn đầy tính chất văn nghệ sáng tác một trăm phần trăm, thì điều ấy không khác gì anh đã quen uống whisky mà tôi lại bắt anh uống bia hay tôi đã quen uống cà phê mà anh bắt tôi uống coca-cola.
Mặt trời đang đỏ dần sau núi, khi máy bay đáp xuống phi trường thì thành phố đã ngả màu chiều. Tôi buớc xuống cầu thang một tay cầm passe-port, một tay rờ lấy cái ví đựng tiền sau túi, vì tôi sợ cái ví rơi đi thì bảy trăm năm chục dollars sẽ bay về một nơi không hò hẹn. Với bảy trăm năm chục dollars ấy, tôi sẽ đi được một vòng nghèo quanh thế giới, từ Á châu đến Mỹ châu, từ Mỹ châu đến Âu châu; lúc máy bay Pan Am cất cánh từ Bangkok qua Manila thì mấy cô chiêu đãi viên “xinh như mộng” đã cho tôi uống hai chai coca-cola và bây giờ khi máy bay đáp xuống Guam thì tôi cảm thấy “chuyển bụng”, bụng của tôi chuyển theo vòng chuyển của mặt trời, Guam có mấy cây dừa cũng chuyển động theo tôi. Tôi bước vào phòng đợi phi trường, tìm một W.C. để rửa mặt và đi đái và làm mọi việc cần thiết. khi tôi bước ra thì Guam bỗng trở nên xanh đen và đẹp kỳ lạ, dù Guam chẳng có gì để gọi là đẹp, trừ ra một bầy dân da nâu, ăn mặc màu xanh màu đỏ, “made in U.S.A.” Tôi mò đến một hiệu tạp hoá ở phi trường, thấy quyển Knight’s Gambit của Faulkner, mua và dở “bói kiều” ngay trang 7:
Anselm Holland came to Jefferson many years ago. Where from, no one knew. But he was young then and a man of parts, or of presence at least, because within three years he had married the only daughter of a man who owned two thousand acres of some of the best land in the country, and he went to live in his father-in-law’s house, where two years later his wife bore him twin sons and where a few years later still the father-in-law died and left Holland in full possession of the property, which was now in his wife’s name. But even before that event, we in Jefferson had already listened to him talking a trifle more than loudly of “my land, my crops”...
Tôi nhìn thấy Faulkner viết trọn cả trang chữ đặc mà không xuống hàng, thực là mệt mắt, nhất là loại sách bỏ túi chữ in rất nhỏ trên giấy quá xấu. Tôi vội nhét cuốn sách vào túi áo imperméable và với tay chụp lấy quyển The Deer Park của Norman Mailer, dở ra “bói kiều” một lần nữa, gặp nơi trang 265:
“...very conceited at bottom. I want to give you the best example of how stupid I am...”
Đọc tới đó, tôi liền móc túi trả tiền và đi ra ngoài ngồi trên chiếc băng đá, nhìn trời, nhìn đất và chờ máy bay cất cánh qua Hạ-uy-di. Khi ngồi trên băng dài, tôi nghĩ vớ vẩn, độc thoại nội tâm: “Faulkner và Norman Mailer? Hai anh chàng viết văn lù dù như bồ câu đực động cỡn. Người ta gọi hai con bồ câu đực ấy là thiên tài. Thiên tài? Đúng là thiên tài? Nhưng không có thiên tai thì làm gì có thiên tài? Chữ tài liền với chữ tai một vần. Nguyễn Du cũng là thiên tài. Chỉ uống có hai chai coca-cola trên máy bay mà đã chuyển bụng muốn chết rồi. Coca-cola quả là thiên tai. Thiên tài cũng phải đi tiêu và đi tiểu chứ. Mà uống hai chai coca-cola vô bụng thì đầy hơi và chẳng muốn làm gì nữa hết. Tại sao phải viết văn như bồ câu đực động cỡn? Tại sao không thể viết về việc uống hai chai coca-cola trên máy bay? Chỉ cần để gaz đầy bụng là thiên tài chỉ còn là một cái bao tử thê lương. Chỉ cần uống hai chai coca-cola thì vũ trụ này chỉ là... chỉ là gì? Faulkner uống rượu nhiều, cho nên viết văn như thằng say rượu; Norman Mailer hút thuốc nhiều đến nỗi bác sĩ cấm hút thuốc và anh chàng lại viết văn như thằng thiếu chất nicotine. Ừ, tiểu thuyết là cái quái gì? Mà lại có chuyện nouveau roman và anti-roman, mấy cái thằng Tây đều bị constipation cho nên hay bày đặt chuyện lộn xộn: structuralisme, anti-structuralisme, merde, anti-merde...”. Ống loa ở phi trường lên tiếng gọi hành khách tiếp tục hành trình. Máy bay vù vù trên biển Thái bình dương. Ồ, Melissa! Melissa! Thái bình dương! Thái bình dương!
Máy bay rù rù cà cựa đáp xuống phi trường Honolulu, bước xuống cầu thang máy, hai túi áo tôi cồm cộm, một bên nhét cuốn Faulkner, một bên nhét cuốn Norman Mailer, một tay xách áo ấm, một tay xách cặp đựng passe-port và giấy vệ sinh nhân tạo, tôi đi “hiên ngang” vào cổng Honolulu. Honolulu đón chào tôi bằng một tiếng “Aloha”. Tôi lại độc thoại nội tâm theo điệu đối thoại trong tiểu thuyết trinh thám: “A lô Hà... A lô! Hà... em vẫn mạnh chứ, con chó cắn em đã được bác sĩ thử máu rồi...” Tôi vèo một chiếc taxi chạy thẳng vào hotel Tropicanna. Tropicanna hay Tristes Tropiques? Tropicanna hay Tropique du cancer? Cởi truồng ra, lấy khăn lông dài cuộn vào mình, tôi leo lên giường, nằm thả thừ người ra, hút thuốc. Nằm trướn người lên, tôi lấy chân khều khều cái cặp da, kẹp bổng nó lên lưng chừng bụng và chìa tay móc lấy cuộn vé máy bay. Cuộn vé được cô bán vé ghi lại cẩn thận, trong vé ghi: Honolulu-San Francisco, San Francisco-New York, New York-Mexico, Mexico-New York, New York-Frankfurt, Frankfurt-Vienne, Vienne-Paris, Paris-Londres, Londres-Paris, Paris-Athènes, Athènes-Bangkok, Bangkok-Saigon. Thế là tôi phải leo lên máy bay trên cả chục lần nữa, nghĩa là có lẽ sẽ phải uống mấy chục chai coca-cola nữa. Tôi phát ngấy. Nước nào cũng như nước nấy, xứ nào cũng y như xứ nấy, cũng coca-cola, cũng hút thuốc, cũng uống cà phê, cũng ăn và tiêu hoá hay không tiêu, cũng đi, ngồi, đứng và đi, ngủ và thức, hai mắt ngó tới đằng trước, hai mắt vẫn ngó tới đằng trước, giả vờ như có một cái gì, nhưng thực ra chỉ là ngó tới đằng trước, ngó tới trước khoảng trống trơn, trống trơn hơn cả vỏ ốc khô.
Melissa! Melissa!
Tâm hồn anh là lỗ trống của con ốc khô. Honolulu đẹp một vẻ đẹp của con ốc khô, được tình cờ rưới vào đó một chút nước biển đen và dơ.
Bãi biển Waikiki và buổi chiều, mặt trời và mặt trăng, vân vân.
Tôi viết những dòng trên vào một phong bì, dán một con tem có hình Lincoln và đề địa chỉ, theo điệu thơ mới, mới hơn tất cả loại thơ của Henri Michaux:
Nguyễn thị Rớt, tự là Melissa-Melissa
số 1969, đường con ốc ma, tự là coca-cola
ở nước không tên, tự là Nada-Nada
Và tôi ghi rõ hơn dưới con tem những dòng chữ tô đậm: “By Air Mail”. Tôi đem lại nhà bưu điện và xin gởi bảo đảm; người công chức bưu điện hỏi tôi bằng tiếng Anh:
— Ông gửi thư đi đâu?
— “Nước không tên” (tôi đọc y giọng Việt), rồi thêm hai chữ “Nada-Nada”.
— Ở đâu?
— Tôi trả lời rồi.
— Xin lặp lại, tôi nghe không kịp.
— Được rồi, gửi chỗ xa nhất nước Mỹ thì phải trả bao nhiêu tiền?
Ông công chức bưu điện ngó tôi với vẻ khó hiểu, rồi lấy biểu kê giá tiền, đẩy gọng kính viễn thọ lên sống mũi:
— Ở Bắc cực thì phải trả... còn ở Nam cực thì phải trả...
— Thôi được rồi, tôi xin trả giá bằng giá Nam cực và Bắc cực cộng lại.
Ông công chức bưu điện có vẻ tò mò:
— Xin lỗi ông, ông là người nước nào?
— Đố ông tôi ở nước nào?
— Nghe giọng ông nói thì chắc ông là người Nhật.
— Nầy nhé, để ông nghe lại tôi nói tiếng tôi và ông đoán thử tiếng ấy là tiếng gì?
Tôi liền moi óc cố tìm ra một loạt tên văn sĩ Nhật và nói luôn một tràng bất tận:
— Yukio Mishima Yasunari Kawabata Basho Issa Okakura Kakuzo...
— Thôi được, đúng là tiếng Nhật rồi, chứ còn tiếng gì nữa, những âm o và a...
— Ông thông minh lắm, xin lỗi ông, ông cho tôi hỏi, ở Honolulu này ở đâu có bác sĩ trị bệnh chó cắn?...
Ở ngoài nhà bưu điện, trời đang mưa, tôi vội vàng đi ra cửa. Điều mình muốn nói vẫn luôn luôn là điều mình không bao giờ nói hết được. Tại sao có một loại ốc chưa chết mà có tên là ốc ma?

------------------------------------------------------------------------------
Trong cuốn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện
(Sài Gòn: nxb Phạm Hoàng, 1970)
Phạm Công Thiện 

Thursday, July 3, 2008

Mặt trời vẫn còn đó


Thành phố ấy có lẽ là thành phố lớn nhất ở khắp thế giới; thành phố không có tên, không lịch sử, một thành phố gồm có mười triệu người, theo bản thống kê gần đây của một Viện Quốc Tế về Phát Triển Đô Thị. Mỗi buổi sáng, lúc ông thức dậy thì một triệu người cũng thức dậy đồng lúc với ông, chín triệu người khác vẫn còn nằm ngủ; lúc ông đứng dậy mở cửa sổ thì một triệu người bắt đầu mở mắt theo cánh cửa sổ vừa mở; lúc ông đi vào phòng rửa mặt và mở máy nước chảy thì một triệu người khác nữa lại bắt đầu tỉnh thức khi ánh sáng tuôn chảy tràn lan theo tiếng nước róc rách bên hàng xóm. Buổi sáng ấy trời rơi bão, cơn bão ban mai đánh vào cánh cửa sổ phần phật, đập vào tất cả những cánh cửa sổ ở thành phố. Bão càng lúc càng nổi lên lùng bùng trong không khí, vừa lúc cơn mưa lớn đổ ào xuống những thì gần hết bảy triệu người còn ngủ giật mình thức dậy, tất cả gần mười triệu người ở thành phố đều thức dậy cả, chỉ còn lại có bốn người vẫn còn say ngủ. Người thứ nhất là một cô gái giang hồ, người thứ hai là một ông thầy tu, người thứ ba là một ông già cụt tay và người thứ tư là một ông mù mắt. Cô gái giang hồ nằm ngủ, ôm con chó Nhật bản ngọ nguậy trên giường, tiếng nhạc dịu phát ra từ máy phát thanh ở đầu giường vẫn còn du dương thật nhẹ những bản tình ca lãng mạn, cô đã để máy chạy suốt từ khuya và nằm ngủ mệt nhọc hững hờ. Bão đập vào cửa từng lúc như tiếng đập cửa của vài ba người khách đi tìm cô vào những giờ khuya khoắt; cô nằm mệt nhoài và ông có thể đoán cô đang mơ mộng, một giấc mộng đám cưới, một đám cưới có cô dâu mặc áo trắng và có một chàng mặc áo đen đứng ở cuối phố ngó theo. Bão đập vào bức màn đỏ treo ở cửa sổ phòng ngủ, con chó cựa mình nhảy vọt xuống nằm tiu nghỉu bên cạnh đôi dép của cô, ngậm một chiếc dép đi vào phòng tắm, đái một vũng trên chiếc khăn tắm của cô bỏ rơi trên sàn gạch. Cách phòng ngủ của cô gái giang hồ chừng năm cây số, trên một ngọn đồi trọc, không cây, không lá, một ngôi chùa gãy đổ loang lổ, ông thầy tu vừa mới thức dậy và nằm đọc kinh Kim Cang trên giường, ông lười ngồi dậy, và lười gõ mõ tụng kinh trước bàn thờ Phật; ông nằm dài trên giường trải chiếc chiếu xám, vừa đọc kinh vừa ngáp, chỉ thức được vài phút rồi ông ngủ say lại, không còn biết trời đất gì nữa. Cơn bão không tài nào đánh thức ông dậy nổi, các ngài có thể đoán rằng ông đang nằm chiêm bao thấy một hòn đảo nổi lên giữa biển xanh, một cù lao mọc lên xanh rì với từng đám cỏ đen, giữa hòn cù lao có một con sông nhỏ kẽ qua, nước chảy nhỉ nhỉ như tiếng thủ thỉ của mộng, hoạn, bào ảnh, sương, điện, hay ánh chớp loè của trời đất. Cuốn kinh Kim Cang rơi nhoài xuống đất và ấp trên chiếc guốc cây nặng nề, tạo thành một bức tranh tĩnh vật mà hoạ sĩ phải là một kẻ không biết vẽ thì mới thấy đó là một cơn lốc của nghệ thuật trong sự xung đột giữa bước chân và con đường. Dưới chân đồi, các ngài có thể thấy một cụ già cụt tay ngồi trước cửa, ngủ gà ngủ gật dựa vào vách xi măng mới sơn trắng, mộng thấy mình đang giương tay bắn cung, tiếng tên bay vèo qua dĩ vãng và thực tại, hai bàn tay dang ra xa và chiếc tên bắn ra thành một chiếc tay, chiếc tay độc nhất bay vụt trong không gian vô tận như một con chó cụt đuôi phóng chạy vào đêm tối. Người thứ tư là ông mù mắt, ông không có tuổi tác, người ta cho rằng ông được khoảng hai mươi tám tuổi, nhưng nhìn thoáng qua nét mặt của ông, đôi khi người ta thấy ông chỉ chừng mười tuổi, đôi lúc ông chỉ chừng bốn mươi, đôi lúc ông lại khoảng chừng tám chục tuổi, nhưng chính ông mù thì ông chỉ biết ông ra đời cách đây hai mươi tám năm, nhưng ông hiểu rằng ông già hơn trái đất, và non như buổi sáng sớm có bão thổi lùng bùng trên từng con trôn xoáy vù vù. Ông ngồi trên ghế bên cửa sổ, một con chim sâu rỉa lông bên thành cửa và coi ông mù như không có, hay nếu có đi nữa thì chỉ có như một cây trụi lá, bất động như cuộc đời và vô tri như ý thức của một người điên không biết ngủ.
Bão lại vụt tắt, mưa bỗng vụt ngừng lại, không khí đứng khựng lại như sa mù, cô gái giang hồ, ông thầy tu và cụ già cụt tay đã thức dậy. Chín triệu chín trăm chín mươi chín người đã thức dậy, chỉ còn lại ông mù là chưa thức giấc, có ai hiểu nổi là ông đang chiêm bao thấy gì? Lắm lúc, tay ông giật giật lên, chân ông giật giật xuống, môi ông giật giật ra, tóc ông căng căng lên, ông đang mơ thấy mình đang đứng trên một hý trường bao la, trước hàng ngàn dãy ghế trống không người, ông đang cúi đầu, hất đầu, gật đầu điều khiển một ban nhạc vĩ đại, gồm hai trăm nhạc công và nhạc sĩ đủ loại, tất cả đều biến thành một, mọi sự được lùa vào nhau, xô vào nhau, chảy vào nhau như muôn ngàn con sóng toé bọt, đập ầm vào ghềnh đá, sầm sầm, xé nát, vỡ toang, bản Đại hoà tấu thứ năm của Beethoven giựt giựt chỉ một lần, tiếng đập cửa, tiếng đập của lửa, tiếng đập của vầng trăng rơi vào óc của một thằng điên ở một tu viện nào đó. Con chim sâu tỉa vào một chiếc lá khô nằm thiu thỉu bên thành cửa sổ, ông mù vẫn nằm chiêm bao, khi giấc mộng đại hoà tấu vừa dứt thì ông tiếp tục nằm mơ thấy màu đỏ và màu vàng, ông thấy ông đang quì lạy trước bàn thờ: trên bàn thờ không có tượng Phật hay tượng Chúa gì cả, mà chỉ có hai vòng tròn, một vòng đỏ ở trên và một vòng vàng ở dưới, giấc mộng kéo dài suốt ngày hôm đó cho mãi đến chiều tối, kéo dài cho đến khuya, rồi tiếp tục cho đến hai giờ sáng, lúc chín triệu chín trăm chín mươi chín người trong thành phố đã ngủ say hết thì chỉ còn ông mù là vừa mới thức dậy. Ông mở cửa sổ ra, chiếc lá khô bật bay giựt ra ngoài cánh cửa. Con chim bay đi đâu? Ông cũng không hề biết sự có mặt hay vắng mặt của con chim thân ái ấy. Nước chảy rào rào trong cuối gian phòng, ông mù ho sặc sặc, rồi nhổ phọt một búng nước miếng xuống lỗ phòng rửa. Ông đẩy cửa và bước thật chậm đi xuống một trạm xe lửa hầm gần đấy, ông đeo đôi kính đen và bước đi không cần gậy, vì mỗi lần bước xuống hầm xe lửa, ông chỉ cần quẹo qua hướng trái, khi xe chạy, lúc ngồi trên xe lửa, ông chỉ cần ngồi im kể lại trong óc một câu chuyện có những động tác và diễn biến nhất định, lúc câu chuyện trong óc ông vừa chấm dứt thì lúc đó xe lửa cũng vừa ngừng lại để ông bước xuống, rồi bước lên trên những bậc đá, quẹo qua hướng trái, đi chừng vài bước, quẹo thêm một lần trái nữa là ông đến trước phòng ngủ mà ông muốn đi đến. Ông leo lên thang máy, bấm nút cuối cùng thì ông đến nơi tầng lầu quen thuộc. Mỗi ngày, bất luận đêm tối hay sáng trăng, trong tám năm trời rồi, ông đã đi trên lộ trình quen thuộc ấy: trong tám năm trời, mỗi lần ngồi trên xe lửa, ông cũng quẹo trái hai lần như vậy: trong tám năm trời, đứng trước cánh cửa phòng kia, ông cũng chỉ cần gõ một tiếng, đứng đợi một giây thì cửa mở và trước khi bước vào phòng ông cũng đứng lại một giây và đánh diêm lên hút điếu thuốc đầu tiên; trong tám năm trời, khi bước vào phòng, ông cũng vào thẳng phòng rửa, rồi phun vọt một búng nước miếng vào lỗ cầu, rồi bước chậm đến ghế kế bên cửa sổ, ngồi lẳng lặng hút thuốc thả khói bồng bềnh, đang lúc ấy, cô gái giang hồ cũng lẳng lặng bước vào phòng rửa mặt và hÊt khẽ một điệu quen thuộc mà cũng trong tám năm rồi cô cũng chỉ hát khẽ một điệu ấy vào hoàn cảnh như vậy, với những cử chỉ và động tác như vậy, cùng với sự có mặt thường lệ của ông mù trên ghế bành bên cạnh cửa sổ.
— Câu chuyện anh viết trong đầu đã kết thúc chưa?
— Vẫn kết thúc mỗi lần anh bước xuống xe lửa.
— À, anh thì vẫn thế.
— Mọi câu chuyện gì cũng đều kết thúc như thế.
— Bữa nay anh vẫn nói điều ấy chứ.
— Cũng vẫn chỉ có điều ấy thôi.
— Đi ngủ đi anh.
— Đi ngủ đi em.
— Sáng mai anh và em sẽ đến đó như thường lệ.
— Lại cuối tuần nữa.
— Anh vẫn không để ý gì hết.
— Em phải để ý cho anh.
— Có thể nào người ta nằm mộng trên tám năm mà cũng chỉ một giấc mộng duy nhất?
— Chỉ còn hai năm nữa là mười năm phải không?
— Nghĩa là còn bảy trăm ba chục ngày.
— Thì mộng sẽ dứt.
— Không có gì dứt hết.
— Câu chuyện vẫn tiếp tục.
— Và kết thúc trong mười năm.
— Để rồi tiếp tục nữa.
— Tiếp tục trong những người khác, trong tất cả những người đã gặp anh và đã nghe anh.
— Chỉ nghe một điều trong mười năm.
— Hay là không nghe gì hết và có chăng chỉ là một giấc mộng.
— Thực hơn là tất cả sự thực.
— Đi ngủ đi em.
— Dạ.
Cánh màn cửa sổ được kéo che lại khung trống, một người mù và cô gái giang hồ ôm nhau nằm dài trên giường, tiếng thở càng lúc càng trở nên đều đều, nhẹ nhẹ, không còn gì nữa, chỉ một lần, chỉ một lần, đêm và ngày, sáng và tối, nàng và chàng, thức và ngủ, nửa vầng trăng nầy tìm nửa vầng trăng kia.

------------------------------------------------------------------------------
Trong cuốn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện
(Sài Gòn: nxb Phạm Hoàng, 1970)
Phạm Công Thiện

Wednesday, July 2, 2008

Bay về một sợi tóc


Dưới kia, ồ, khói bay, mờ quá, không thấy gì nữa. Trên đầu nó, tiếng kêu của một chim trắng rớt ngay vào hai lòng bàn tay. Mười ngón tay móc vào nhau, chụm lại, bóp nát tiếng kêu của con chim trắng. Gió đẩy sương mù ra ngoài kẽ biển. Lòng biển vẹt hai ra, một ngách đen chạy dài gần tới rún.
— Mai này, tôi sẽ đi về hướng kia.
— Không.
— Ở lại chứ?
— Không.
— Tôi không bao giờ hiểu anh muốn gì.
— Tôi hiểu gió, tôi hiểu đá, tôi hiểu những con kiến.
— Những con kiến của quá khứ anh?
— Đừng lãng mạn.
— Tại sao sợ?
— Trắng?
— Dạ.
— Có cái gì trắng trong tên của cô?
— Không hiểu.
Về hướng tây, có cái gì trắng nổi lên trên mặt nước, ồ, khói bay, mày vàng đi nhẹ vào mặt nước ngày đó, cuối bãi một rừng quít đỏ, không phải, đó là một rừng mộng đỏ mà mỗi chiếc lá trên cành là mỗi một giấc mộng gửi lại trên ghềnh đá mười triệu năm trước.
— Mỗi chiếc lá là một giấc mộng đỏ gửi lại trên đầu ghềnh.
— Đừng lãng mạn.
— Tại sao không?
— Trắng?
— Dạ.
— Có cái gì trắng trên tên của cô.
Trên kia, ô kìa, không khí thuỷ tinh, một trăm con ngựa phóng vào mặt trời, cánh đồng xanh trổ mạ non, trời ơi, có cái gì trắng hay vàng trên kia, tôi đang điên hay tôi đã chết rồi, tôi đang nói chuyện gì với ai đó, tôi nghe tiếng nói, tôi nghe tiếng trả lời, không phải tôi đã tắt thở vào đêm qua hay sao? Không phải người ta đã vuốt đôi mắt tôi cho khép kín? Hắn đã chết từ đêm. Một người nói như thế. Tôi còn nhớ, tôi vẫn còn trí nhớ. Không. Tôi không chết, tôi chết, tôi đang bay, tôi, tôi, tôi, không phải tôi bay, mà một người bay, không phải một người bay, không, một cái gì vàng đang bay, không, một sợi tóc, không, không phải một chấm đen đang bay, không, không, không phải, không có cái gì bay cả, một hơi thở đang bay, không, ồ, khói bay ồ, mờ quá, à ơi, xin ru chim trắng, à ơi, xin ru mây vắng, một rừng mộng đỏ, ôi, những ghềnh đá, ôi thôi, biển đen, có cái gì đỏ nổi trên gió.
— Hôm nay tôi sẽ đi về hướng kia.
— Không.
— Về hướng kia, kia kìa, về nơi kia, nơi chấm đen kia.
— Đâu?
— Đó, chấm đen kia.
— Nốt ruồi đen.
— Về hướng nốt ruồi đen kia.
— Đâu rồi?
— Một nốt ruồi đen.
— Đâu?
— Hôm nay tôi sẽ đi về hướng kia, đi về nốt ruồi đen nơi cánh tay cô.
— Đâu?
— Nốt ruồi đen nơi lưng cánh tay.
— Có đâu?
— Cô hãy đưa thuốc lên môi.
— Sao?
— Cô hãy đưa điếu thuốc lên môi.
— Tôi không hiểu.
— Khi cô đưa thuốc lên môi thì lưng cánh tay cô sẽ phô ra một nốt ruồi đen.
— Ồ, điếu thuốc đã tắt lửa.
— Tôi sẽ đi về hướng kia, nơi nốt ruồi đen trên lưng cánh tay cô.
— Đừng lãng mạn.
— Vàng?
— Dạ?
— Có cái gì vàng trong tên của cô.
— Không hiểu.
— Cô thấy gì trong lòng tay tôi?
— Một sợi tóc đen dài.
— Nằm giữa những đường chỉ tay của định mệnh.
— Một sợi tóc rớt lại.
— Trong gian phòng tôi, trên bàn viết của tôi, một sợi tóc đen dài rớt lại, khi cô ngồi đó; rồi khi cô đi về thì sợi tóc đen ấy còn ở lại với tôi.
— Không có gì ở lại trên đời này.
— Có.
— Cái gì?
— Sự chết còn ở lại trên đời này.
— Tôi không hiểu.
— Khi tôi chết thì tôi sẽ đi về hướng nốt ruồi đen trên lưng cánh tay cô.
— Bằng một sợi tóc còn rớt lại.
— Và một màu trắng nổi lên ở hướng tây kia.
Buổi sáng nổ vào khung cửa kính, nó ngồi dậy, đẩy cửa sổ ra và nhìn xuống đường phố, ồ, một sợi tóc và một chấm đen, một giấc mộng đỏ và một giấc ngủ vàng, tối đêm qua, khi ngồi uống rượu đỏ với Vĩnh tại quán cà phê ở ngay trạm métro nơi Place Jussieu vào lúc quá mười hai giờ khuya, khi những cơn bụi tuyết lấp trắng ngoài phố, hơi men bừng đỏ quán rượu vắng người, ngồi trên chiếc ghế cò trước quầy rượu, nó không muốn nói cho Vĩnh nghe về những nốt ruồi đen trên thân thể của người đàn bà, nhưng nó lại không im lặng và không để cho Vĩnh kể cho nó nghe về một màu vàng nào đó của Vermeer ôi, ô kìa, “những cơn tuyết rơi đầu tiên của mùa vắng mặt”,[*]hắn lặp lại cho Vĩnh nghe một câu thơ của tác giả tập Amers.[**]
— Mầy cứ ở lại Paris, đừng đi đâu khác.
— Tao không thể ở lại được, tao phải đi.
— Tùy mày quyết định, nhưng tao bảo mày cứ ở lại.
— Tao không ở yên chỗ nào cả.
— Thằng Moscovitch vừa chết, đã chôn rồi.
— Tao đã biết tin ngày hôm qua, mày đưa tao đến nghĩa địa thăm nó.
— Chiều mai mày đến Malesherbes chờ tao ở quán rượu thường lệ, tao sẽ đưa mày đến Garenne-Colombes thăm mộ của nó, con Anna khóc quá, tao với thằng Tín có đưa đám táng nó.
— Hôm nào, rồi tao sẽ đưa đám táng mầy.
— Sau khi đưa đám táng của nó rồi, tao uống rượu say cả đêm, tao thấy tao sẽ đi trên con đường của thằng Moscovitch.
— Mấy bức tranh của nó, không ai còn nhớ.
— Không ai được quyền nhớ, không ai được quyền nhìn, nó hãnh diện kín đáo, lúc nó còn sống, nó không để cho ai nhìn thấy những bức tranh nó vẽ.
— Nó cũng giống như mày, cao ngạo ngầm.
— Mày uống thêm một ballon rouge nữa.
— Garçon, deux rouges...
— Et un demi...

-------------------------------------------------------------------
Trong cuốn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện
(Sài Gòn: nxb Phạm Hoàng, 1970)
Phạm Công Thiện

_________________________
Phụ chú của Hoàng Ngọc-Tuấn:
[*] “những cơn tuyết rơi đầu tiên của mùa vắng mặt”, nguyên văn tiếng Pháp: “les premières neiges de l'absence”, là một câu trong bài thơ “Neiges” của Saint-John Perse, in trong cuốn Neiges (Paris: Gallimard, 1944).
[**]Saint-John Perse (1887–1975) là tác giả của tập thơ Amers (1957).
 

Tuesday, July 1, 2008

Bay đi những cơn mưa phùn


Hắn thổi những cơn mưa phùn qua khung cửa kính hiệu buôn thuốc lá và cà phê. Chỉ có đất Pháp này mới có những quán thuốc lá chuyên bán đủ loại thuốc hút, đồng thời bán phụ thêm cà phê và rượu đỏ: cà phê đen, rượu đỏ và thuốc bao xanh là ba dấu hiệu của đất Pháp: không có ba thứ này, nhất định nước Pháp sẽ không còn những cơn mưa phùn tháng tư. Hắn ngồi bên cạnh khung cửa kính, quán thuốc lá chỉ mang tên vỏn vẹn là tabac café express; quán thuốc nằm đối diện nghĩa địa. Chung quanh đều im lặng, thỉnh thoảng vài tiếng ho, tiếng cửa đẩy vào, tiếng gió rít vào từ những ngày quá khứ. Bây giờ là tháng tư? Thời gian là những tháng tư còn lại. Không, tháng mười rồi. Mưa bụi và lạnh, những cơn mưa phùn tháng mười ở ngoại ô Paris.
Hắn ho khan vài tiếng cho đỡ buồn; trời lạnh quá, im lặng quá, nhiều khi mình phải bày đặt ho khan để thấy rằng mình vẫn còn đó, vẫn sống, vẫn thở và thổi những cơn mưa phùn vào nghĩa địa của ngoại ô đầu thu. Đầu thu hay cuối thu? Đầu cuộc sống và cuối sự chết? A, tôi phải đi. Paris chỉ nằm bên kia sự chết: Saigon, Hànội, Huế, Đàlạt chỉ là những thành phố Paris nằm bên kia sự chết. Giết hết tất cả những thành phố, bôi sạch chữ Paris trong tâm hồn mình, bôi tên, quên họ, bỏ quốc tịch, vứt lại đằng sau lưng những con đường rầy, những đêm tối, những mùa xuân, những quê hương. Làm một kẻ phản quốc, phản bội bạn bè, phản bội tổ tiên, phản bội văn chương, phản bội tùy bút, truyện ngắn và truyện dài. Trung thành với nỗi chết xa và gần, nỗi chết long đong, nỗi chết của những cơn ho gượng, ho cho đỡ buồn. Chỉ có những cơn ho khan là quan trọng, tất cả còn lại chỉ là văn chương.
A, tôi phải đi. Vừa đi vừa ho. Tập ho cho thật nhiều, ho như chưa từng biết ho trong đời. Người ta ho lao và người ta muốn ho lao: tôi không muốn ho lao, tôi chỉ muốn ho khan cho bay đi những cơn mưa phùn tưởng tượng. Dưới kia thung lũng là cỏ khô. Một dấu chấm, một dấu phết, một dấu sắc và một dấu huyền. Tất cả còn lại...

-----------------------------------------------------------------------
Trong cuốn Bay đi những cơn mưa phùn của Phạm Công Thiện
(Sài Gòn: nxb Phạm Hoàng, 1970)
Phạm Công Thiện